Nâng cấp rừng phòng hộ kẻ gỗ - Hà Tĩnh

Cập nhật ngày : 04/06/2010 06:47

    Rừng phòng hộ  có chức năng  phòng chống các nhân tố khí hậu có hại, bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái trong những phạm vi  địa lý cụ thể. Bởi vậy hệ thống rừng phòng hộ phải có cấu trúc phù hợp với chức năng của nó và duy trì lâu dài , ổn định . Kẻ Gỗ cũng như nhiều vùng khác của Việt Nam trải qua quá trình sử dụng rừng bất hợp lý nên đã để lại hàng triệu ha  đất trống trọc làm nguy hại đến môi trường và sản xuất nông lâm nghiệp trên địa bàn. Từ 1992 nhà nước Việt Nam đã có chủ trương trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc  với dự án 327 và tiếp theo là Dự án 661 cùng với nhiều Dự án tài trợ của nước ngoài ,Việt N

     Rừng trồng phòng hộ tính dến 31-12-2008 được 533.506 ha trong tổng số 4.739.236 ha cũng là đóng góp đáng kể trong công cuộc phát triển rừng.  Với mong muốn rừng được tạo thành là rừng nhiều tầng với nhiêu loài cây để  phát huy đầy đủ khả năng phòng hộ.  Rừng trồng phần lớn  là rừng một tầng với một loài cây chủ yếu  là Keo lá tràm , Keo tai tượng hoặc Thông nhựa, Thông mã vĩ… Thực tế và lý thuyết chỉ ra rằng chỉ có rừng hỗn loài , nhiều tầng với nhiều loài cây phù hợp với điều kiện sinh thái  mới phát huy đầy đủ tính năng phòng hộ và đảm bảo tính bền vững (ít bị phá hại của dịch bệnh, gió bão, hoả hoạn…). Do vậy  nhiều  nơi, nhiều dự án đã đề xuất việc nâng cấp rừng, đa dạng hoá lâm sinh nhằm tạo ra hệ thống rừng phòng hộ bền vững. Một vài đánh giá các mô hình rừng trồng phòng hộ từ thiết kế ban đầu đã chỉ ra nhiều điều cần khắc phục trong việc chọn loài, chọn kết cấu phù hợp  với những vùng sinh thái cụ thể. Nâng cấp rừng phòng hộ Kẻ Gỗ là một trong những thử nghiệm đó. Khảo sát , đánh giá thực nghiệm này  có thể  có một số gợi mở việc nâng cấp rừng phòng hộ.
1.    Rừng phòng hộ hồ Kẻ Gỗ :
Vùng ven  hồ Kẻ Gỗ trước năm 1993 hầu hết trống trọc, đất trơ sỏi đá  đã được tiến hành trồng rừng trong Chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc ( Chương trình 327) với loài cây chủ yếu là Keo lá tràm và Keo tai tượng. Trên 1500 ha rừng Keo đã được hình thành đang phát huy tác dụng phòng hộ. Tuy nhiên rừng Keo thuần loại đã bị nhiều trận bão làm đổ gãy, nhất là trận bão số 5 năm 2005. Không những rừng Keo ở Kè Gỗ mà nhiều nơi khác cũng cho thấy khả năng phòng hộ của rừng Keo  bị hạn chế về khả năng lâu dài và tính bền vững của lâm phần. Trong xu thế chung Hà Tĩnh tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật phù hợp nhằm tạo nên hệ thống rừng phòng hộ có cấu trúc phù hơp (nhiều tầng, hỗn loài) đã tiến hành trồng bổ sung 3 loài cây bản địa: Lim xanh, Re hương, Cồng trắng (Sồi phảng). Từ năm 2002 đến năm 2007 đã trồng bổ sung trên 770 ha.

                  Bảng 1:  Nâng  cấp  mô hình trồng rừng phòng hộ hàng năm
 
TT    Năm trồng    Tiểu khu    Số khoảnh    
Số lô    Diện tích (ha)    
Loài cây    
Ghi chú
1    2002    329    1    7    20,00    Lim xanh, Re hương, Cồng trắng    
2    
2003    +    2    37    95,00         
        329    1    22    60,00    Lim xanh, Cồng trắng    
        328    1    15    35,00    Lim xanh, Re hương    
3    
2004    +    470         155,00         
        328    2    40    96,00    Lim xanh, Re hương    
        335    2    30    59,00    Lim xanh, Re hương    
4    2005    320    4    52    160,00    Lim xanh, Re hương    
 
5    
2006    +    3    45    140,00         
        308    1    20    68,70    Lim xanh    
        328    1    22    65,10    Lim xanh    
        329    1    3    6,20    Lim xanh, Re hương    
 
 
6    
 
2007    308    1    9    25,70    Lim xanh, Re hương    
        +    4    28    100,00         
        326    2    23    60.30    Lim xanh, Re hương    
        337    1    4    10.30    Lim xanh    
        320    1    1    3,70    Lim xanh    
 
 
7    
 
2008    308    1    14    28,40    Lim xanh    
        +    6    33    100,00         
        329    2    11    24,90    Lim xanh    
        318    2    9    22,10    Lim xanh    
        338    1    2    3,00    Lim xanh    
        320    1    11    21,60    Lim xanh    
     Tổng    9 TK    25K    295 lô    770,00         
           
   Trong 7 năm thực hiện mô hình đã trồng  770,00 ha cây bản địa dưới tán rừng Keo lá tràm, với công thức ¬ sau:
           - Trồng trên diện tích chặt tỉa 20% Keo là 409,45 ha;
          - Trồng trên diện tích chặt tỉa 30% Keo là 42,95 ha;
          - Trồng trên diện tích chặt tỉa 50% Keo là 317,60 ha;
          - Phư¬ơng thức chặt tỉa, theo hàng, (chặt chọn những cây phẩm chất kém, sinh trưởng chậm, cong queo, sâu, bệnh);
   Sử dụng ba loài: Lim xanh, Re hương, Cồng trắng để trồng dưới tán rừng Keo theo ba mức độ xử lý tán rừng Keo , song chỉ  có hai loài bố trí  đủ 3 công thức cho năm 2004.
 
                        Bảng 2. Sinh trư¬ởng  các loài trong các công thức

 
Năm trồng    Năm
2002    Năm
2003    Năm 2004    Năm
2005    Năm
2006    Năm
2007
  Công thức điều chỉnh tán (%)    

50    

50    

50    

30    

20    

20    

20    

20
Tuổi rừng trồng (năm)    7    6    5    5    5    4    3    2
Lim xanh                                 
- Dbq, (cm)    2,10    2,65    2,49    2,02    1,85    2,27    1,47    0,75
- Hvn bq, (m)    3,00    3,59    2,60    2,46    2,39    2,82    1,68    0,46
Re h¬ương                                
- Dbq, (cm)    3,90    3,72    2,43    2,29    2,16            
- Hvn bq, (m)    5,30    4,97    3,42    3,21    3,25            
Cồng trắng                                
- Dbq, (cm)    2,70    2,71                        
- Hvn bq, (m)    3,40    5,17                        
 
                   
                 Bảng 3. Tăng t¬rưởng bình quân theo năm và cường độ điều chỉnh tán tuổi 5
                            
Loài    Chỉ tiêu sinh trưởng    Công thức


Lim xanh        50 %    30%    20%
        D (cm)    2,49    2,02    1,85
        rd ( cm)    0,50    0,40    0,37
        H(m)    2,60    2,46    2,39
    rh (m)    0,52    0,49    0,48

Re hương        D (cm)    2,43    2,29    2,16
        rd ( cm)    0,49    0,46    0,43
        H(m)    3,42    3,21    3,25
        rh (m)    0,68    0,64    0,65

        Bảng trên cho thấy độ tàn che của Keo khác nhau ảnh hưởng tới sinh trưởng chiều cao và đường kính của cả Lim xanh và Keo  và Re hương.
        Trong quá trình trồng thực nghiệm mô hình ở Kè Gỗ, cách bố trí các năm trồng không có các công thức nhắc lại, song cũng cho thấy sự ảnh hưởng của độ tàn che tới các lòai cây trồng.
Căn cứ tỷ lệ sống của các loài (trên 85%) và khả năng tăng trưởng của chúng  cho chúng ta khẳng định: hoàn toàn có thể  thay đổi và cải tạo tổ thành rừng keo thành rừng hỗn loài với ácc laòi cây bản địa. Song cách làm cần được xác định một cách hợp lý.

 
Re hương trồng năm 2003 dưới rừng Keo lá tràm ở Kẻ Gỗ


2.    Biện pháp kỹ thuật nâng cấp rừng phòng hộ:
 Trong thời gian qua  chúng ta đã dùng nhiều cách gọi để thay đổi tổ thành các rừng trồng thuần loại thành rừng hỗn loại: nâng cấp rừng, đa dạng hoá lâm sinh, thiết lập và quản lý bền vững các mô hình phục hồi rừng. Nhiều hoạt động theo cách làm này đã triển khai ở các Dự án trồng rừng Việt Đức, đã có những đánh giá bước đầu.
 Rừng phòng hộ đầu nguồn hay cảnh quan môi trường cần có cấu trúc hợp lý và đảm bảo tính bền vững. Căn cứ thực trạng  rừng trồng hiện có ở từng nơi để quyết định  bằng biện pháp quản lý để điều khiển rừng đạt đến mục tiêu hay cần thiết trồng bổ sung để tạo nên lâm phần thuần loại.
 Nhiều lâm phần Keo lá tràm được hình thành do trồng rừng ở Hà Tĩnh thiếu lớp cây gỗ tái sinh  dĩ nhiên không thể bằng biện pháp quản lý sử dụng tiềm năng tái sinh tự nhiên để dẫn dắt lâm phần tới lâm phần hỗn loại.
 Bởi vậy chọn loài, chọn thời điểm để trồng bổ sung thay thế  một tỷ lệ trong tổ thành các lâm phần Keo thuần loại có hệ thống để có thể lặp lại khi muốn phát triển. Một số mô hình trồng bổ sung các laòi cây bản địa dưới tán Keo hay Thông nhựa nhưng chưa xác định theo hệ thống , cho nên mô hình được hình thành ít nhiều thể hiện tính ngẫu nhiên nên khó bề  phát triển đại trà.
 Bởi vậy cần tạo mô hình hỗn loại theo đám hoặc theo băng có kích thước phù hợp cần được khảo nghiệm và đúc kết kinh nghiệm cụ thể.
Mặt khác mô hình không những ổn định lâu dài về mặt sinh thái mà nó cũng cần cung cấp những vật phẩm cho người quản lý sống lâu dài với nó (người dân, Ban quản lý rừng phòng hộ). Lâu dài có thể có kinh phí thu từ môi trưòng do rừng đem lại, nhưng sự sự thu nhập cụ thể dù ít ỏi cũng tăng thêm tinh thần trách nhiệm cho cộng đồng quản lý nó. Làm được điều này cũng cần có nghiên cứu thử nghiệm cụ thể mới có hiệu quả.
3.    Lời kết :
    Mô hình nâng cấp rừng phòng hộ ở Kè Gỗ là những thông tin có ích nhằm giúp chúng ta xây dựng hệ thống biện pháp kỹ thuật phù hợp để xây dựng rừng phòng hộ có kết cấu phù hơp , bền vững , phát huy đầy đủ chức năng phòng hộ  và trực tiếp cải thiện một phần đời sống của người dân sống gần rừng.