Đề xuất cơ sở xây dựng suất đầu tư trồng rừng sản xuất

Cập nhật ngày : 04/06/2010 06:43

I. Các cơ chế chính sách về phát triển trồng rừng sản xuất 
Trồng rừng sản xuất là một hoạt động kinh doanh đặc thù có chu kỳ kinh doanh dài, lâu thu hồi vốn (tối thiểu là 5-6 năm), lợi nhuận không cao, nhiều rủi ro (sâu bệnh, thiên tai, cháy rừng, thị trường bất ổn, . . .) do đó các cơ chế chính sách của nhà nước được coi là một mắt xích trọng yếu nhất, là căn cứ vững chắc nhất để đầu tư trồng rừng sản xuất. Hoạt động đầu tư trồng rừng sản xuất chỉ đạt hiệu quả (kinh tế, xã hội và môi trường) nếu hoạt động đó nằm trong định hướng chung của nhà nước và có một môi trường an toàn từ khâu trồng rừng đến khâu tiêu thụ sản phẩm từ rừng trồng. 
 

Theo tiến sĩ Phạm Xuân Phương (2004)  các chính sách liên quan đến phát triển rừng sản xuất có thể chia thành 5 nhóm sau đây:
- Chính sách giao đất, cho thuê đất.
- Chính sách khoán rừng và đất rừng sản xuất.
- Chính sách đầu tư và tín dụng.
- Chính sách thuế sử đụng đất nông nghiệp.
- Chính sách tiêu thụ lâm sản từ rừng trồng.
Như vậy, chủ đầu tư trồng rừng sản xuất phải căn cứ vào các quy hoạch tổng thể cho phát triển lâm nghiệp, các định hướng mang tính chiến lược, các nhóm chính sách đã được đề cập ở phần trên của nhà nước, vùng, miền và địa phương nơi dự kiến đầu tư trồng rìmg sản xuất nhằm xác định lộ trình và lập kế hoạch đầu tư để đạt được các mục tiêu của mình. Đặc biệt là việc tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước cho hoạt động trồng rừng sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng nếu các nhà đầu tư dự kiến phát triển hoạt động trồng rừng sản xuất theo quy mô lớn và trong thời gian dài. Các chủ đầu tư có thể tham khảo Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 10/09/2007 của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015, trong đó nêu rõ: nhà nước khuyến khích các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng và chế biến lâm sản theo quy định của pháp luật về việc bảo vệ và phát triển rừng. Nhà nước sẽ hỗ trợ một phần chi phí ban đầu nhằm khuyến khích phát triển rừng đồng thời là để chi trả lại một phần giá trị môi trường do rừng trồng mang lại. Nhà nước ưu tiên hỗ trợ cho các thành phần kinh tế đầu tư trồng rừng sản xuất ở các vùng đặc biệt khó khăn tạo động lực thúc đẩy phát triển lâm nghiệp ở các xã này trong đó đặc biệt ưu tiên hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và các huyện miền núi các tỉnh Trung Bộ.
II. Nhu cầu thị trường
Nhu cầu thị trường là căn cứ chính giúp các nhà đầu tư quyết định xem nên đầu tư trồng loài cây nào. Do đặc thù của hoạt động đầu tư trồng rừng là có chu kỳ kinh doanh dài trong khi nhu cầu về gỗ nguyên liệu thời gian gần đây có nhiều biến động nên việc nắm bắt được nhu cầu của thị trường về sử dụng gỗ nguyên liệu trong tương lai có ý nghĩa rất quan trọng đối với vấn đề phát triển rừng trồng sản xuất. Để làm được điều này các nhà đầu tư quan tâm đến truyền thống sử dụng gỗ nguyên liệu, các thành tựu mới trong công nghiệp chế biến gỗ, các giống cây trồng đã được chứng minh cho năng suất cao và đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, xu hướng xuất khẩu đồ gỗ ra nước ngoài.
Hiện nay nước ta có khoảng hơn 2 triệu ha rừng trồng phân tán ở khắp các địa phương trong cả nước trong đó có nhiều nơi rừng phải trồng lên cả các sườn dốc cao, đất xấu xa các nhà máy chế biến gỗ, năng suất rừng trồng thấp gây khó khăn cho việc khai thác, vận chuyển làm tăng chi phí sản xuất, tăng giá gỗ nguyên liệu, tăng giá thành sản phẩm dẫn đến sức cạnh tranh thấp. Theo tính toán của các chuyên giá trong lĩnh vực chế biến lâm sản ở Việt Nam, lượng gỗ khai thác hàng năm ở nước ta vào khoảng 2,2-2,3 triệu m3, chủ yếu là gỗ đường kính nhỏ dùng làm nguyên liệu giấy, ván nhân tạo cộng cả với gỗ lấy từ rừng tự nhiên thì lượng gỗ nguyên liệu mới chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu sản xuất. 80% số gỗ còn lại phải nhập khẩu. Các loài gỗ nhập khẩu rất phong phú và đa dạng gồm: gỗ từ rừng trồng, rừng tự nhiên; gỗ cây lá rộng, cây lá kim và gỗ lớn, gỗ nhỏ: Bạch đàn các loại, Keo các loại, Thông các loại, Tếch, Giổi, Chò, Căm xe, Lim, Hương, Trắc, Tống quán sủi và Sồi... từ 26 nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ, châu Âu và châu Úc.
Việc sản lượng gỗ rừng trồng hiện tại chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu gỗ tiêu dùng và xuất khẩu trong nước thật sự là một cơ hội cho các nhà đầu tư bỏ vốn phát triển trồng rừng sản xuất đặc biệt là các rừng trồng nguyên liệu công nghiệp tập trung nhằm thay thế dần gỗ nhập khẩu.
III.  Khả năng tiếp cận hiện trường 
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích có rừng là 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất lâm nông nghiệp. Như vậy, ngành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân. Tuy nhiên diện tích đất được quy hoạch để phát triển lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước. Do đó, trước khi quyết định đầu tư trồng rừng sản xuất, các chủ đầu tư cần quan tâm tới khả năng tiếp cận hiện trường dự kiến.
Sẽ rất thuận lợi cho các chủ đầu tư nếu hiện trường dự kiến trồng rừng sản xuất nằm trong vùng không quá khắc nghiệt (về thời tiết, về địa hình), gần khu vực có dân cư an ninh tốt, cơ sở hạ tầng lâm nghiệp (như đường, hệ thống thuỷ lợi, . . .) tương đối tốt, gần đường dân sinh, gần các nhà máy chế biến gỗ nguyên liệu, . . .
Trong trường hợp ngược lại, chủ đầu tư cần cân nhắc đến tính hiệu quả của việc đầu tư trồng rừng sản xuất. Nếu rừng được trồng ở những nơi có địa hình khó khăn thì chi phí trồng, chi phí khai thác, chi phí vận chuyển sẽ rất lớn ảnh hưởng tới chi phí sản xuất do đó ảnh hưởng đến giá thành sản xuất, làm giảm sức cạnh tranh về giá cả của các diện tích rừng đó. Nếu hiện trường dự án nằm ở những nơi quá xa khu dân cư thì sẽ khó phát hiện và ngăn chặn những sự cố như cháy rừng, sâu bệnh, nạn lâm tặc,… dẫn tới những hậu quả đáng tiếc cho hoạt động đầu tư trồng rừng. Nếu hiện trường dự án nằm ở khu vực nông thôn, miền núi hoặc vùng xa xôi, hẻo lánh có nhiều đồng bào dân tộc đang sinh sống thì tập quán sống chủ yếu dựa vào khai thác lâm sản, du canh du cư, phát nương làm rẫy sẽ khiến cho việc bảo vệ rừng trồng gặp rất nhiều khó khăn. Chỉ khi dự án đủ lớn, đồng bộ với chính sách tạo đủ công ăn việc làm cho người dân, gắn quyền lợi của họ với trách nhiệm bảo vệ rừng thì các dự án trồng rừng sản xuất mới có hiệu quả.
IV. Vùng sinh thái và điều kiện lập địa
Việc chọn loài cây trồng rừng thích hợp cho từng vùng sinh thái và các yếu tố lập địa rất quan trọng. Đây là một trong những nhân tố chính quyết định đến tính hiệu quả của hoạt động đầu tư trồng rừng sản xuất. Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/3/2005 về việc ban hành danh mục các loài cây ưu  tiên cho trồng rừng sản xuất theo 9 vùng sinh thái với tổng số 46 loài cây khác nhau, trong đó mỗi vùng sinh thái khoảng từ 10 loài cây đến 16 loài cây. Đây là những loài có thị trường tiêu thụ rộng và ổn định, khả năng thích ứng cao, các vùng có thể chủ động về nguồn giống và phương thức nhân giống, những người tham gia trồng rừng nắm vững kỹ thuật giống, gieo ươm, trồng và chăm sóc rừng
Tuy danh mục các loài cây ưu tiên khá rõ ràng nhưng mới chỉ dừng lại ở mức đáp ứng được một phần cho việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch trồng rừng có tính vĩ mô, còn khả năng ứng dụng vào việc chọn loài cây trồng, bố trí cơ cấu cây trồng cho từng cơ sở và từng điều kiện cụ thể còn nhiều hạn chế do số lượng loài cây đưa ra quá nhiều và mang tính liệt kê giới thiệu tập đoàn cây trồng có triển vọng cho một vùng  hay nhiều vùng mà chưa đưa ra được khuyến cáo cụ thể đối với các điều kiện lập địa  khác nhau trong các vùng sinh thái
Trong đề tài trọng điểm cấp Bộ "Phân hạng đất trong rừng sản xuất một số loài cây chủ yếu ở các vùng trọng điểm", 2006- 2009, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa điều kiện lập địa với sinh trưởng, xây dựng bảng phân đất cấp vi mô và dự báo năng suất rừng trồng của một số loài cây trồng rừng sản xuất chủ yếu hiện nay như: Keo lai, Keo lá tràm, Keo tai tượng, Thông nhựa, Thông mã vĩ, Thông 3 lá, Luồng, Bạch đàn urophylla, Sao đen, Dầu nước cho 5 vùng sinh thái là vùng Trung tâm, Đông Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ. Các tiêu chí về lập địa được lựa chọn để đánh giá bao gồm: loại đất, độ dày tầng đất, độ dốc, OM tống số, thực bì chỉ thị. Do hạn chế về mặt thời gian và kinh phí nên đề tài chưa thể tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng của tất cả các loài có tên trong danh mục ưu tiên do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành với điều kiện lập địa tại 9 vùng sinh thái. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu rất sâu và chi tiết cho một số loài cây trồng chủ yếu tại 5 vùng sinh thái có giá trị tham khảo rất tốt đối với các chủ đầu tư đã và đang tham gia vào hoạt động phát triển rừng trồng sản xuất trên toàn quốc.
V. Hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường
Hiệu quả kinh tế do các rừng trồng sản xuất mang lại là một trong những lý do chính hấp dẫn các nhà đầu tư. Hiệu quả kinh tế của các ưng trồng sản xuất được đánh giá bởi một số chỉ tiêu sau: 1) Giá trị hiện tại thuần NPV (Net Present Value); 2) Giá trị hiện tại thuần bình quân; 3) Tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR; 4) Hiệu suất đầu tư BCR
Các chỉ tiêu kinh tế được đề cập trên đây có quan hệ tương đối khăng khít với nhau trong đó chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần bình quân năm được coi là chỉ tiêu tốt nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại rừng trồng.
Trong khuôn khổ đề tài Phân hạng đất rừng trồng của một số loài cây trồng chủ yếu, PGS.TS Ngô Đình Quế và các cộng sự cũng đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả kinh tế của một số loài cây trồng chủ yếu trên các lập địa và các cấp đất khác nhau. Các kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo rất tốt cho các đề xuất trồng rừng sản xuất Thông thường các loài cây trồng có chu kỳ kinh doanh ngắn ngày có hiệu quả kinh thế thấp hơn so với các loài cây trồng dài ngày. Tuy nhiên các rừng trồng dài ngày có mức độ rủi ro (sâu bệnh, cháy rừng,...) cao hơn so với rừng trồng ngắn ngày. Tuỳ thuộc vào mục tiêu, thời gian và nguồn vốn, các chủ đầu tư có thể lựa chọn loài cây và địa điểm trồng cây để đạt được lợi ích cao nhất.
Ngoài mục tiêu hiệu quả kinh tế, các chủ đầu tư phát triển rừng trồng có thể theo đuổi các mục tiêu khác là hiệu quả xã hội (như tạo công ăn việc làm ổn định, cải  thiện cuộc sống cho những người tham gia trồng rừng, nâng cao nhận thức và kinh nghiệm trồng rừng tại những nơi triển khai dự án,...) hoặc hiệu quả về mặt môi trường (đặc biệt là các khả năng cải tạo độ phì đất, hấp thụ khí Cacbon, hạn chế xói mòn, bảo về đất điều tiết nước,...). Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng, các giá trị môi trường có thể chiếm tới 60-70% tổng giá trị kinh tế của rừng trồng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi cơ chế buôn bán trao đổi chứng chỉ giảm phát thải cacbon đang diễn biến hết sức sôi động trên thị trường thế giới và rừng trồng là một trong những bể chứa cacbon rất hiệu quả.
VI. Một số căn cứ khác
  Để hoạt động đầu tư trồng rừng sản xuất có hiệu quả, ngoài các căn cứ trên đây, nhà đầu tu còn thải quan tâm đến một số căn cứ khác như:
  Sự sẵn có và chất lượng giống của một số loài cây trồng chủ yếu
  Những nghiên cứu gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, đặc biệt là của Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Hà Huy Thịnh (1999, 2000) đã nghiên cứu, tuyển chọn các xuất xứ của giống Keo lai tự nhiên, Bạch đàn và lai giống nhân tạo giữa các các loài Keo. Kết quả là đã tạo ra các dòng lai có sức sinh trưởng tốt gấp 1,5 - 2,5 lần các loài cây bố mẹ, năng suất rừng trồng ở một số vùng đạt từ 20 - 30 m3/ha/năm, có nơi đạt đến 40m3/ha/năm.
Khảo nghiệm về chọn tạo giống và nhân giống Lê Đình Khả cùng cộng sự năm 2003 đã tuyển chọn được 6 dòng Keo lai tự nhiên có sinh trưởng tốt nhất để đưa vào khảo nghiệm ở các vùng sinh thái. Kết quả khảo nghiệm là tất cả ở các nơi được gây trồng Keo lai đều sinh trưởng gấp từ 1,5 đến 4 lần Keo tai tượng và Keo lá tràm.
  Nguyễn Việt Cường (2002) đã nghiên cứu khá toàn diện về lai giống 3 loài Bạch đàn Urophylla, Camaldulensis và Exserta. Tác giả đã chọn được 7 tổ hợp lai đạt năng suất từ 20 - 27 m3/ha/năm, gấp 1,5 - 2 lần giống sản xuất hiện nay. 3 dòng Bạch đàn lai 81, 85 và HH có năng suất vượt các giống PN2 và PN 14 từ 23 - 84%. Ngoài ra, năm 2004 Lê Đình Khả và các cộng sự (1999) nghiên cứu về khả năng chịu hạn của một số dòng Keo lai ở giai đoạn tuổi non và đối chứng với Keo tai tượng và Keo lá tràm. Kết quả cho thấy 2 dòng BV10 và BV32 có khả năng chịu hạn tốt nhất.
Nếu tại nơi dự kiến đầu tư trồng rừng sản xuất có sẵn, có đủ các nguồn giống tốt năng suất cao, ít bị sâu bệnh (như một số dòng được đề cập trên đây), thì việc đầu tư phát triển các rừng trồng sản xuất sẽ có rất nhiều thuận lợi.
Kỹ thuật lâm sinh 
Kỹ thuật lâm sinh có ảnh hưởng nhiều đến năng suất do đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của rừng trồng. Chủ đầu tư dự án rừng trồng sản xuất nên quan tâm đến các nghiên cứu của các nhà khoa học trong lĩnh vực lâm sinh và đầu tư vào những nơi mà người tham gia trồng rừng có truyền thống, có kinh nghiệm và kỹ thuật trong các hoạt động trồng rừng. Ở Việt Nam hiện đã có một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực lâm sinh như sau:
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2004) nghiên cứu, đánh giá năng suất rừng trồng Bạch đàn E. urophylla trên ba loại đất khác nhau ở khu vực Tây Nguyên. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh như nhau nhưng Bạch đàn E. urophylla sinh trưởng ở đất nâu đỏ tốt hơn ở đất phù sa cổ.
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2006) nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ để phát triển gỗ nguyên liệu cho xuất khẩu. Đã xác định được giống và biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng nguyên liệu có năng suất cao, đạt chất lượng xuất khẩu.
Võ Đại Hải và cộng sự (2006) đã thực hiện nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng núi phía Bắc. Nghiên cứu đã đề cập đến biện pháp kỹ thuật lâm sinh, chính sách và thị trường trong việc trồng rừng sản xuất ở vùng núi phía Bắc.
Với rừng cung cấp gỗ lớn (Mỡ, Keo tai tượng, Sa mộc) cần chuyển hướng mục tiêu kinh doanh cung cấp gỗ lớn kết hợp với gỗ nhỏ, kết hợp tái sinh chồi với Mỡ, Sa mộc và tái sinh hạt luân kỳ 2 với Keo tai tai tượng với Keo lá tràm vừa nâng cao được năng suất và sản lượng thay cho gỗ nhỏ.
Trong những năm gần đây, việc áp dụng cơ giới hóa trong trồng rừng, nhất là trồng rừng công nghiệp đã được quan tâm, theo nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) thí nghiệm cày ngầm đề trồng Bạch để trồng urophylla trên đất thoái hóa ở đất Phù Ninh - Phú Thọ cho thấy trồng Bạch đàn trên  đất cày toàn diên có năng suất cao hơn nhiều so với làm đất bằng thủ công, sau 8 năm tuổi Bạch đàn trồng ở đất làm cơ giới đạt 16 m3/ha/năm, nhưng ở nơi làm đất bằng thủ công thì chỉ đạt 5m3/ha/năm.
Phạm Thế Dũng và cộng sự (2005), đã nghiên cứu trồng Keo lai ở nơi đất làm bằng cơ giới và nơi đất làm thủ công ở vùng Đông Nam Bộ có kết quả ngược lại. Nghiên cứu chỉ ra rằng trồng Keo lai ở nơi đất làm bằng cơ giới có sinh trưởng thấp hơn ở nơi trồng đất làm bằng thủ công.
Đỗ Đình Sâm và các cộng sự (2001) đã nghiên cứu bón phân cho rừng trồng Keo lai trên đất phù sa cổ ở vùng Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sau 2 năm tuổi   rừng Keo lai bón phân với 200g NPK với 100g phân vi sinh, tăng trưởng của cây có thể đạt tới 26m3/ha/năm.