Bảo vệ, phát triển tài nguyên rừng Tây Nguyên: Cần cơ chế hợp lý, hài hòa lợi ích...

Cập nhật ngày : 21/06/2010 10:56

Sau 20 năm (1986-2006), diện tích rừng ở Tây Nguyên giảm từ 1 triệu ha xuống còn hơn 600.000ha. Hiện trữ lượng gỗ toàn vùng còn 237 triệu m3, trên thực tế khả năng cung cấp gỗ rất thấp, chỉ khoảng 50 ngàn m3/năm, phần lớn là gỗ tạp. Điều đó không tương xứng với điều kiện tự nhiên thế mạnh của vùng..


Thực trạng.

Một thực tế hiện nay ở Tây Nguyên là Nhà nước trực tiếp quản lý quá nhiều rừng. Cụ thể, lâm trường quản lý 278.224ha, các Vườn Quốc gia, Ban Quản lý rừng 409.150ha; UBND cấp xã đang quản lý 71.720ha, các doanh nghiệp khác 9.310ha, (chiếm 1,2%), các hộ gia đình quản lý 15.523ha chiếm 2%. Tổng cộng Nhà nước quản lý 480.870ha (chiếm 61%), các thành phần khác chỉ quản lý hơn 3%. Hiện nay, các lâm trường quốc doanh hiệu quả kinh doanh thấp, chưa làm tốt chức năng “bà đỡ” cho nông dân. Đó là gánh nặng cho ngân sách và cũng là yếu tố cơ bản khiến người dân không có cơ hội để làm giàu từ rừng. Ngoài ra, cơ cấu rừng theo chức năng phòng hộ, rừng đặc dụng chưa hợp lý. Theo thống kê, diện tích đất rừng đặc dụng của khu vực hiện nay là 783.927ha, bằng 30% diện tích đất lâm nghiệp. Diện tích rừng phòng hộ là 175.158ha bằng 22,3%. Đất trồng được nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao thì đem trồng rừng theo dự án, đến khi dân cần đất thì không thể chuyển mục đích sử dụng do vốn Nhà nước đã đầu tư vào diện tích này. Cơ cấu rừng bất hợp lý là nguyên nhân khiến chất lượng rừng của Tây Nguyên kém so với các vùng khác cũng như các nước trong khu vực. 

Ngoài ra, việc cho vay vốn tín dụng để trồng rừng quá ít, chỉ có 02 Lâm trường được vay còn các hộ gia đình và các thành phần kinh tế khác chưa tiếp cận được nguồn vốn này. Đầu tư thông qua các thành phần kinh tế khác ngoài ngành và các hộ gia đình trồng rừng là rất hạn chế.

Giải pháp nào để nâng cao diện tích và chất lượng rừng.

Những yếu tố bất hợp lý nêu trên cho thấy yêu cầu xác định tính hợp lý 3 loại rừng hiện nay (rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng) là rất cần thiết và phải rõ ràng. Điều đó sẽ góp phần đảm bảo phát triển kinh tế rừng ổn định, bảo vệ được môi trường sinh thái, đảm bảo công ăn việc làm, thu nhập cho người dân làm nghề rừng. Đồng thời phải cơ cấu chủ sở hữu của rừng hợp lý theo hướng: giảm diện tích rừng do Nhà nước quản lý và tăng diện tích do cộng đồng quản lý. Điều này là phù hợp với tập tục, nguyện vọng của đồng bào, giảm chi phí bảo vệ rừng, giảm được mâu thuẫn về sử dụng, khai thác tài nguyên rừng. Đồng bào được sử dụng, khai thác rừng hợp pháp, phục vụ cho cho một số nhu cầu cần thiết như củi, gỗ làm nhà...

Ngoài ra, rừng của hộ gia đình (rừng tiểu điền), cần được định lại giá trị thực, ghi nợ và giao khoán (có thời hạn) cho hộ gia đình quản lý. Đối với đất để trồng rừng, cần triển khai việc cấp quyền sử dụng đất và hỗ trợ dân trồng rừng. Rừng của các doanh nghiệp tư nhân (rừng đại điền), là khu vực sản xuất lớn, dễ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, thiết bị, thu hút việc làm, xây dựng các mô hình tiên tiến để phát triển. Có thể áp dụng phương thức đấu giá và giao cho doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty cổ phần để quản lý kinh doanh. Khuyến khích doanh nghiệp khai phá những vùng đất trống đồi núi trọc để trồng rừng ở nơi xa dân.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường chính sách đầu tư và hưởng lợi. Ưu điểm của chính sách này là: tạo công bằng cho người dân khi được giao hoặc khoán rừng phòng hộ, khuyến khích được người dân tham gia bảo vệ rừng, đồng thời bảo đảm quyền kiểm soát của Nhà nước đối với rừng tự nhiên (đồng sở hữu rừng tự nhiên), giảm đầu tư trực tiếp cho rừng, chuyển sang đầu tư gián tiếp, để kích thích nghề rừng phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, Nhà nước, nhất là các ban, ngành liên quan cần xây dựng các chính sách cụ thể, phù hợp đối với rừng và người làm nghề rừng.

Trần Thường